13. “Yathā’gāraṃ ducchannaṃ, Vuṭṭhi samativijjhati; Evaṃ abhāvitaṃ cittaṃ, Rāgo samativijjhati”. | Như ngôi nhà vụng lợp, Mưa liền xâm nhập vào. Cũng vậy tâm không tu, Tham dục liền xâm nhập. |
14. “Yathā’gāraṃ succhannaṃ, Vuṭṭhi na samativijjhati; Evaṃ subhāvitaṃ cittaṃ, Rāgo na samativijjhati”. | Như ngôi nhà khéo lợp, Mưa không xâm nhập vào, Cũng vậy tâm khéo tu, Tham dục không xâm nhập. |
Kệ Pháp Cú 13-14 nầy, Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập
đến Đại đức Nanda.
Quả nhiên, lúc Đức Giáo chủ là đấng Chuyển Pháp Luân vân du đến thành
Rājagaha (Vương Xá) và đang ngự tại Tịnh xá Veḷuvana (Trúc Lâm), thì đại vương
Suddhodana (Tịnh Phạn) dồn dập biệt phái mười đoàn sứ giả với lời ủy thác: “Chư
hiền khanh khá mau qua đó rước Thái tử về, cho quả nhân được gặp mặt con”.
Từng đợt, hàng ngàn thị giả theo vị đoàn trưởng nối tiếp ra đi, để rồi tất cả đều
đắc A La Hán quả và nhập luôn vào Giáo hội Tăng già, đến lượt cuối cùng vị đoàn
trưởng là Đại đức Kāḷudāyi nhận biết là đã đúng thời kỳ thỉnh Phật, bèn ngâm lên sáu
mươi bài kệ, ca tụng con đường trở lại cố đô.
Với đoàn Thánh Tăng hai muôn vị Lậu Tận (A La Hán), giữa cảnh trùng phùng
với tất cả vương gia quyến thuộc, Đức Thiên Nhơn Sư đã khiến cho một trận mưa
hồng rơi xuống như hoa (Pakkharavassa) để làm sống lại một thời xưa, rồi nhân đó
Ngài nhắc tích Bồ Tát Vessantara là tiền thân của Ngài.
Qua ngày sau, lúc ngự vào thành khất thực, Đức Bổn Sư độ cho phụ vương Ngài
đắc quả Nhập Lưu (Sotāpattiphala) với bài kệ Pháp Cú:
“Uttiṭṭhe nappamajjeyya,
Dhammaṃ sucaritaṃ care;
Dhammacārī sukhaṃ setī,
Asmiṃ loke paramhi ca”.
“Pháp môn khất thực chớ khinh thường,
Chánh hạnh Tỳ khưu pháp đáng nương.
Kẻ y chánh pháp hằng an lạc,
Kiếp trước đời sau vạn kiết trường
Và với bài kệ sau đây:
“Dhammañcare sucaritaṃ,
Na naṃ duccaritaṃ care;
Dhammacārī sukhaṃ seti,
Asmiṃ loke paramhica”.
“Chánh hạnh hành theo pháp đáng thương,
Tà hạnh đừng nên giữ lệ thường.
Kẻ y chánh pháp hằng an lạc,
Kiếp trước đời sau vạn kiết trường”.
Ngài đã độ cho Di mẫu Mahāpajāpaṭi Gotamī đắc quả Nhập Lưu và đưa Phụ
vương Ngài tiến lên quả Nhất Lai (Sakadāgāmi).
Kế đó, sau một bữa thọ thực trong hoàng cung, Đức Bổn Sư thuyết tích nàng
Candakinnarī, là một chúng sanh mình chim đầu người vốn là tiền thân của nàng
Yasodharā, ngõ hầu để cho ân nghĩa mẹ Rāhula đối với chính Ngài từ những lúc còn
mang kiếp thú…
Đến ngày thứ ba, đang lúc Thái tử Nanda tưng bừng cử hành song lễ là tức vị
Quốc vương cùng tấn phong Hoàng hậu, thì Đức Bổn Sư ngự vào biệt điện hoàng gia
để lấy bát. Thọ thực xong, Ngài trao bát tận tay Thái tử Nanda, ban lời chúc phúc, rồi
từ bảo tọa đứng lên cất bước ra đi, không thâu hồi bát lại.
Thái tử vì lòng tôn kính Đức Như Lai, không dám mở lời kêu gọi: “Bạch Ngài!
Xin hãy lấy bát đi”.
Lẳng lặng theo hầu Đức Thầy, Thái tử nghĩ thầm: “Tới cầu thang chắc Ngài sẽ
lấy bát”, nhưng tới đó Đức Bổn Sư không dừng chân lại lấy bát. Thái tử lại tính thầm:
“Chắc là xuống chân cầu thang, thì Ngài sẽ lấy lại chẳng sai” nhưng đến đấy Đức Bổn
Sư vẫn làm ngơ đi luôn một mạch. Thái tử lại tự nhủ: “Thế nào tới sân ngự trước đền
rồng, Ngài cũng sẽ thâu bát lại” nhưng đến nơi đây, Đức Bổn Sư cũng vẫn điềm nhiên
đi thẳng”.
Mặc dầu trong thân tâm vẫn muốn quay gót trở lui, Thái tử vì nể Đức Thầy,
không hề dám hở môi kêu nài: “Ngài ơi! Xin Ngài lấy bát lại giùm”.
Vừa đi vừa mong ước lầm thầm: “Tới đây Ngài sẽ lấy bát lại… tới đằng ấy Ngài
sẽ lấy bát lại…”. Cứ như thế, Thái tử lầm lùi theo sau chân Đức Bổn Sư, làm một vị
thị tùng miễn cưỡng.
Ngay lúc ấy, có bọn cung tần trông thấy Thái tử ra đi, bèn chạy đi báo tin cho bà
tân Hoàng hậu là công nương Janapadakaḷyānī (Hoa Khôi) được biết.
- Tâu lịnh nương nương, Đức Thế Tôn đã dắt tân vương đi rồi vậy lịnh bà phải
liệu làm sao, một khi tân vương vắng mặt…
Nghe tin cấp báo công nương không cầm được suối lệ, lật đật bới sơ đầu tóc
đang chải dở dang, bương bả chạy theo gọi vói:
- Hoàng tử ơi! Xin khá mau trở lại trào ca
Những lời kêu than thiết tha của ý trung nhân, dường như châm thấu trái tim đa
cảm của vị Hoàng tử si tình, khiến chàng phải bàng hoàng ngơ ngẩn… Nhưng Đức
Bổn Sư Ngài vẫn tiếp bước, không hề quay lại thâu hồi bình bát, để cho Hoàng tử
được rảnh tay.
Dắt chàng đến chùa, Đức Bổn Sư phán hỏi:
- Nanda! Có muốn xuất gia không?
Vì quá tôn kính Đức Tôn Sư, Thái tử không thể từ chối rằng: “Không”, nên ngập
ngừng đáp lại:
- Dạ thưa… Muốn! Bạch Ngài.
Đức Giáo Chủ liền bảo: “Nếu vậy, nầy các Tỳ khưu, các ông làm lễ xuất gia cho
Thái tử Nanda”.
Đức Bổn Sư độ cho Thái tử Nanda xuất gia đúng vào ngày thứ ba kể từ ngày
Ngài trở về thành Kapilavatthu.
Trong ngày thứ bảy, mẫu thân của Thái tử Rāhula, cho con vận một bộ triều
phục sang trọng hoa mỹ dạy con hãy đến gần Đức Thế Tôn và đinh ninh dặn rằng:
“Vương nhi thấy không! Vị Sa môn da như vàng ròng, hình dáng như Phạm Thiên, có
đến hai muôn Sa môn khác theo hầu hạ, chính là phụ vương của con đó, khi phụ
vương ra đời thì người có được những hầm châu báu vĩ đại, nhưng từ khi người xuất
gia đến giờ mẫu hậu không còn trông thấy được nữa. Vậy vương nhi, con hãy đến xin
người ban cho con phần di sản ấy. Con thưa như vầy nghe: Bạch Ngài Đại Sa môn,
con là trưởng tử của Ngài. Sau khi kế vị ngai vàng, con sẽ là một Chuyển Luân
Vương giàu sang bốn biển, nên con cần phải có những kho sản quý giá vì lẽ phụ
nghiệp thì tử năng thừa, xin Ngài ân tứ cho con những hầm châu báu của Ngài”.
Thái tử Rāhula đến gần Đức Thế Tôn, đảnh lễ xong thì phát tâm yêu mến phụ
thân mình nên âu yếm thỏ thẻ rằng: “Bạch Ngài Sa môn! Bóng mát của Ngài làm con
vui sướng làm sao”.
Đoạn Thái tử đứng lên, nói thêm những lời lẽ, bày tỏ nguyện vọng của mình.
Sau khi thọ thực và phúc chúc xong, Đức Thế Tôn từ bảo tọa đứng dậy ra về.
Thái tử Rāhula cũng vội vã đi theo Đức Thế Tôn và nhắc đi nhắc lại: “Xin Ngài
Đại Sa môn ân tứ phụ sản cho con, xin Ngài Đại Sa môn ân tứ phụ sản cho con…”.
Đức Thế Tôn lặng thinh, không bảo Thái tử quay gót trở về. Nội thị triều thần
trông thấy Thái tử đi chung với Đức Bổn Sư thì cũng không ai dám đứng ra ngăn cản
lại. Do đó, Thái tử theo Đức Thế Tôn đi luôn cho đến vườn chùa.
Khi ấy, Đức Thế Tôn nghĩ rằng: “Thứ phụ sản mà Rāhula mong mỏi, chỉ là thứ
tài sản luân lưu giả tạm (Vaṭṭānugata) không được trường tồn vĩnh cữu. Vậy để Như
Lai ban cho nó Thánh sản (Ariyadhana) có Thất bảo mà Như Lai đã đắc nơi cội Bồ
Đề của Như Lai vậy”.
Liền đó, Đức Thế Tôn kêu Đại đức Sāriputta: “Ông hãy cho Rāhula xuất gia”.
Đại đức y lịnh, làm lễ xuất gia cho Thái tử.
Nghe được tin nầy, đức vua Suddhodana hết sức buồn phiền. Không thể nhẫn nại
làm thinh, đức vua ngự đến yết kiến Đức Thế Tôn, bày tỏ nỗi lòng sầu khổ và đưa ra
thỉnh nguyện như vầy: “Bạch Thế Tôn, xin Ngài đừng cho chư Tăng làm lễ xuất gia
cho đứa trẻ vị thành niên nào chưa được cha mẹ cho phép”.
Đức Thế Tôn chấp nhận lời yêu cầu của đức vua. Hôm sau, khi Đức Thế Tôn
ngự trong đền vua, dùng bữa điểm tâm (pātarāsa) xong, Tịnh Phạn Vương ngồi nép
một bên và bạch rằng:
- Bạch Ngài, trong thời gian Ngài tu khổ hạnh có một vị chư thiên đến mách bảo
quả nhân rằng: “Thái tử của đại vương đã mệnh chung”. Quả nhân nhất định không
tin lời vị chư thiên ấy, cho nên phản đối ngay rằng: “Không bao giờ Thái tử của trẫm
có thể mạng chung, trước khi đắc thành Thánh quả”.
Nghe vậy, Đức Thế Tôn bảo rằng:
- Tâu đại vương, trong kiếp nầy làm sao đại vương còn tin được vì trong kiếp
trước cũng chính người đó trưng cho đại vương thấy một bộ xương và nói: “Con ông
đã chết”, nhưng đại vương nghe xong chẳng chút gì tin.
Nhân dịp nầy, Đức Thế Tôn thuyết tích Bổn Sanh nói về công tử
Mahādhammapāla (Đại Hộ Pháp).
Nghe đến đoạn kết, đức Tịnh Phạn Vương liền đắc quả A Na Hàm (Anāgāmi).
Sau khi độ cho phụ vương Ngài đắc ba quả Thánh rồi, Đức Giáo Chủ cùng với
tất cả Tỳ khưu Tăng thị tùng lên đường trở lại gần thành Vương Xá.
Từ đấy, do theo lời hứa với Trưởng giả Anāthapiṇḍika, Đức Bổn Sư ngự hành
sang qua Sāvatthī, để chủ tọa lễ khánh thành ngôi Đại Tự Jetavava vừa kiến trúc xong
và ngự an nơi đó.
Trong thời gian Đức Thầy ngự an nơi Jetavana như thế, Đại đức Nanda cảm thấy
bực bội, bứt rứt, nóng nảy, bồn chồn nên hằng thở than với chư Tăng rằng:
- Các sư hữu ơi! Tôi không thấy chút gì hứng thú khi hành theo phạm hạnh.
Chắc là tôi không sống được đời tu sĩ lâu, có lẽ rồi đây ta sẽ xả giới và trở về cương vị
cũ của tôi khi trước.
Khi Đức Bổn Sư nghe chư Tăng tường trình câu chuyện nầy, Ngài cho gọi Đại
đức Nanda đến và phán hỏi:
- Nầy Nanda! Nghe nói ông đã thốt với nhiều Tỳ khưu những lời như vầy: “Các
sư hữu! Tôi không thấy hứng thú trong sự hành theo phạm hạnh, chắc là tôi không
sống cuộc đời tu sĩ được lâu. Có lẽ rồi đây tôi sẽ xả giới mà trở về cương vị cũ của tôi
lúc trước”. Có quả thật vậy chăng?
- Bạch Ngài! Quả thật vậy.
- Nầy Nanda! Ông mắc chứng cớ gì mà không thấy hứng thú trong sự tu hành
theo phạm hạnh, không ưng sống cuộc đời tu sĩ, toan xả giới xuống cương vị của ông
như cũ?
- Bạch Ngài! Tôi không thể quên nàng Thích Nữ của tôi là công chúa Kaḷyānī,
khi nàng từ trong biệt điện hoàng gia, tóc chải nữa chừng, mắt chưa ráo lệ. Nàng đã
van lơn: “Hoàng tử ơi! Xin chàng hãy mau trở lại trào ca”. Bạch Ngài! Tôi nhớ mãi
hình bóng của nàng mà không thấy chút gì hứng thú trong sự hành theo phạm hạnh,
không ưng sống cuộc đời tu sĩ và sẽ xả giới lui về cương vị tân vương.
Liền đó, Đức Thế Tôn nắm tay Đại đức Nanda, dùng thần thông đưa Đại đức lên
Đao lợi thiên cung, dọc đường bay Đức Thế Tôn chỉ cho Đại đức lưu ý đến một con
khỉ cái sứt tai, sứt mũi, đứt đuôi, ngồi chết rục trên một gốc cây cháy nám, trong một
cánh đồng khi hỏa hoạn.
Trên cung trời Đao Lợi, Đức Thế Tôn dẫn cho Đại đức Nanda được vào xem
cảnh năm trăm thiên nữ đang chầu hầu đức Ngọc Đế (Sakka), năm trăm Hằng Nga
yêu kiều diễm lệ, gót đỏ như son thắm, tựa như chân chim bồ câu. Cho xem mãn nhãn
rồi, Đức Thế Tôn mới hỏi: “Nầy Nanda! Ông nghĩ thế nào? Nếu đem so sánh năm
trăm Ngọc nữ yểu điệu nầy với Thích Nữ Kaḷyānī, thì ai diễm lệ ai mỹ miều, ai khả ái
hơn ai?”.
Nghe Thế Tôn hỏi, Đại đức vội đáp: “Bạch Ngài, nếu đem so nàng Thích Nữ
Kaḷyānī với năm trăm ngọc nữ nầy, thì nàng ấy xấu như con khỉ cái ngồi chết rục sứt
cả tai, mũi và cụt đuôi kia vậy. Về nhan sắc nàng thua kém quá xa mười phần không
bằng được một, lẽ dĩ nhiên năm trăm tiên nga nầy yêu kiều mỹ lệ, mỹ miều, khả ái
hơn nhiều”.
- Nếu vậy thì nầy Nanda, ông hãy vui lên, hãy vui lên đi. Như Lai cam đoan là
ông sẽ được năm trăm ngọc nữ yểu điệu gót son nầy.
Nghe vậy Đại đức Nanda mừng rỡ, trả lời rằng:
- Bạch Thế Tôn, nếu Ngài chịu đứng chủ hôn giúp cho tôi cưới được năm trăm
ngọc nữ gót son yểu điệu ấy, thì tôi nguyện sẽ vui vẻ luôn và thực hành phạm hạnh,
bạch Ngài.
Liền khi ấy, Đức Thế Tôn nắm tay Đại đức Nanda, biến mất trên cung trời Đao
Lợi và hiện xuống nơi Tịnh xá Veḷuvana.
Giữa chư Tăng có tiếng đồn đãi rằng: “Nghe nói Đại đức Nanda, là em một cha
khác mẹ với Đức Thế Tôn, cố công hành đạo chỉ vì mong mỏi được gần ả thiên nga…
Nghe nói Đức Thế Tôn cam đoan sẽ giúp cho Đại đức Nanda được gần năm trăm
ngọc nữ gót son yểu điệu”.
Từ khi ấy, các Tỳ khưu bạn của Đại đức Nanda hễ gặp mặt Đại đức là buông lời
khinh chê, chọc ghẹo nào là: Đại đức tu hành theo lối người ở đợ; nào là: Đại đức làm
như kẻ nô lệ, cố công hành đạo chỉ vì muốn cưới năm trăm ngọc nữ yểu điệu gót son
mà Đức Thế Tôn đã hứa chủ hôn thành toàn cho Đại đức.
Cứ nghe bạn đồng tu lặp đi lặp lại mãi những lời chế nhạo gay gắt ấy, Đại đức
Nanda cảm thấy khó chịu, bực mình, chán ngán quá, nên lánh đi tìm một chỗ khuất
tịch vắng vẻ, đem hết tâm tư chuyên thực hành phạm hạnh Sa môn pháp. Không bao
lâu Đại đức đạt tới mục tiêu cứu cánh của đời phạm hạnh, tự mình chứng ngộ sự tri
kiến các pháp và an tâm nơi đó, cũng như bất cứ con nhà gia giáo, thoát ly gia đình,
xuất gia hành đạo, tu theo chánh pháp vậy.
Đại đức tự mình giác ngộ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã tròn, việc phải làm đã
làm, sau kiếp nầy ta sẽ không còn kiếp nào khác nữa”.
Thế là từ đây, trên cõi trần ai có thêm một vị A La Hán nữa là Đại đức Nanda
vậy.
Khi ấy vào khoảng nửa đêm, một vị chư thiên hiện xuống, hào quang chiếu sáng
khắp cả Jetavana, đến bên Đức Bổn Sư đảnh lễ Ngài xong, mách bảo rằng: “Bạch
Ngài! Đại đức Nanda là em cùng cha khác mẹ với Ngài, đã diệt trừ lậu hoặc, thành
bậc Vô Lậu, có tâm giải thoát, có tuệ giải thoát, tự mình chứng đắc các pháp tri kiến
và an tâm nơi đó rồi”.
Kế đó, khi đêm gần tàn, Đại đức Nanda cũng về gần Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài
và bạch rằng:
- Bạch Thế Tôn! Xin Ngài hủy bỏ lời cam đoan hứa đứng chủ hôn cho tôi với
năm trăm ngọc nữ gót son, từ nay tôi không tính tưởng đến việc ấy nữa.
- Nầy Nanda! Như lai nhờ Tha tâm thông đã biết rõ rằng là Nanda đã tận trừ lậu
hoặc, thành bực Vô Lậu, có tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự mình đã chứng ngộ các
pháp tri kiến và an tâm nơi đó rồi… Nầy Nanda! Ông được tâm giải thoát tất cả lậu
hoặc, nhờ buông bỏ chấp thủ từ giờ phút nào thì lời cam đoan của Như Lai cũng được
cởi mở từ giờ phút ấy.
Thế rồi, Đức Thế Tôn ngâm kệ hoan hỷ tán thán rằng:
“Yassa tiṇṇo kāmapaṅko,
Maddito kāmakaṇṭako;
Mohakkhayamanuppatto,
Sukhadukkhe na vedhatīti”.
“Vũng bùn dục lạc đã băng qua,
Gai ngũ trần kia đã đạp chà.
Ai dứt bỏ si mê thì giác ngộ,
Khổ vui chẳng động đến tâm mà”.
Sau đó, có một hôm các Tỳ khưu cật vấn Đại đức Nanda rằng:
- Nầy sư hữu! Lúc trước sư hữu thường hay than phiền bất mãn, thế bây giờ thì
ra sao?
- Nầy các sư hữu! Tôi không còn muốn hoàn tục đâu.
Nghe qua lời ấy, chư Tăng bảo nhau rằng: “Đại đức Nanda đã nói lời giả dối, có
ý không muốn cho ta biết rõ sự thật, những ngày trước, chính Đại đức than phiền luôn
miệng là: Tôi chán nản quá, mà bây giờ lại nói: Tôi không còn muốn hoàn tục nữa là
sao?
Thế rồi, chư Tăng đem câu chuyện nầy bạch lên Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn dạy
rằng:
- Nầy các Tỳ khưu! Vì trong dĩ vãng tâm tư Nanda giống như gian nhà mái lợp
thưa thớt, còn bây giờ tâm ông ta giống như gian nhà mái lợp kín đáo rồi vậy. Quả
thật từ khi nhìn thấy các Thiên nữ về sau ông đã tịnh tâm tu hành để đạt đến mục đích
tối thượng của đời xuất gia, nhờ vậy mà nay ông đã kỳ sở nguyện.
Dứt lời, Đức Thế Tôn xướng lên hai bài kệ sau đây:
“Yathā’gāraṃ ducchannaṃ,
Vuṭṭhi samativijjhati;
Evaṃ abhāvitaṃ cittaṃ,
Rāgo samativijjhati”.
“Yathā’gāraṃ succhannaṃ,
Vuṭṭhi na samativijjhati;
Evaṃ subhāvitaṃ cittaṃ,
Rāgo na samativijjhati”.
Như ngôi nhà vụng lợp,
Mưa liền xâm nhập vào.
Cũng vậy tâm không tu,
Tham dục liền xâm nhập
Như ngôi nhà khéo lợp,
Mưa không xâm nhập vào,
Cũng vậy tâm khéo tu,
Tham dục không xâm nhập.
Comments